Javascript DHTML Drop Down Menu Powered by dhtml-menu-builder.com
Kinh Doanh
Danh Mục Sản Phẩm
Kỹ Thuật Trang Trại
Hỗ Trợ Trực Tuyến
Lâm Thanh Liêm
0919 599 600
Lâm Thanh Liêm
0919 599 600
Lâm Thanh Liêm
0919 599 600
Liên kết website
Tài liệu tham khảo

PHẦN II: CHĂN NUÔI HEO RỪNG

( Cập nhật : 28/05/2013 18:49:14 )

Tài liệu của Tiến Sĩ Võ Văn Sự.

PHẦN II: CHĂN NUÔI LỢN RỪNG
2.1.    Tại các nước phương tây:
Pháp là một nước nuôi khá nhiều lợn rừng, có đến 800 trại (Chăm niên Thoong Phăn Chăng, 2005). Ngay trong tự nhiên số này đã rất lớn, năn 2004 – 2006 ước tính có 415.000 con và năm 2007 – 2008 đã tăng lên 522.000 con (Selena Masson – 2010).
Riêng mùa đông năm 2010 thợ săn đã săn 500.000 con, gấp 10 lấn so với 30 năm trước mặc dù mức độ săn bắn ngày càng tăng nhanh, nhưng đàn lợn cũng sinh sản nhanh đến mức mà thợ săn đã kêu gọi một ” cuộc chiến với lợn rừng” (Hugh Schofield – 2010).
Nước Anh nuôi lợn rừng theo kiểu chăn nuôi hữu cơ (Organic farming). Tại nước này có hai kiểu được ứng dụng: đó là quảng canh ( thả tự do – free rnaged) và thâm canh (brown-dirt’ farming). Kiểu đầu được ưa chuộng hơn vì đảm bảo được yêu cầu về quyền động vật (aminal welfare) và thịt lợn sản xuất ra cũng có vị ngon hơn. Kiểu này yêu cầu phải có các trang bị như đất, hàng rào, các công cụ xử lýlợn, đàn giống,... Tuy nhiên nhược điểm lớn nhất của kiểu này là lợn phá hủy lớp trên của bề mặt đất. Lợn rừng được xem là động vật nguy hiểm và nằn trong sự quản chế của luật ”Luật động vật nguy hiểm – Dangerous Wild Aminals Act 1976 (Modification) Order 1984” (theo British wild boar – 2010).
Theo Farm Diversitification (2010) thì tại nước Anh hiện có 100 trại, riêng tại Scotland đã có 30 với khoảng 2.000 lợn nái sinh sản.
Tại Anh: Thịt lợn rừng đã có trong thực đơn của người nước này hàng ngàn năm trước đây. Săn bắn lợn rừng là môn ”thể thao”, còn thịt lợn rừng là thực phẩm cho nô lệ ( noble classes). 300 năm trước lợn rừng được săn bắn nhiều đến mức tận diệt. Rất may chúng cò tồn tại ở Đức, Pháp, Đan Mạch, ... và từ các nước này lợn rừng được đưa quay trở lại nước Anh và được nhân giống, nuôi dưỡng ở những trang trại chăn nuôi thuận lợi.
Lợn rừng sinh sản một năm một lần, đẻ con vào mùa xuân, 6 con/ ổ. 12-18 tháng đạt trưởng thành. Mức sinh sản như thế không thuận lợi về kinh tế. Vì thế một số nông dân lai lợn rừng với lợn nhà nhằm cải tạo tình trạng này, nhưng mùi vị (flavour) lại không đạt được như lợn rừng.
Một trang trại có tiếng đó là Trang trại Graig Farm 9 (Hình ảnh 26). Tại đây lợn tự kiếm ăn trên nền đất và đồng cỏ. Tuy nhiên do hạn chế địa bàn hoạt động nên lợ được bổ sung thêm rau quả củ như khoai tây, với cám. Lợn rừng được chăn nuôi theo hướng hữu cơ như tiêu chí được đề ra:” The Natural Home of Organic Food – Ngôi nhà tự nhiên thực phẩm hữu cơ”
Tại Tây Ban Nha:
Người ta cho rằng lợn rừng được du nhập đến đây bởi Ông thương gia Hernando de Soto – vào năm 1539. Tại đây chúng được nuôi thả tự do trên đồng cỏ như ở Anh.
Tại Mỹ:
Có hình thức là lai giữa lợn rừng và lợn nhà và nuôi thả trong các vườn quốc gia để phục vụ săn bắn – gọi là Wild Game Boar (Gunnersden.com – 2010). Loại lợn này cũng được mổ thịt và xuất bán. Công ty BW Procurement LLC tại bang Texas là một trong những tổ chức hoạt động bán thịt lợn rừng loại này với chứng chỉ chất lượng của Cục Dược – Thực phẩm Mỹ (USDA) và EU.
2.2 Tại Thái Lan:
Đa phần lợn rừng nuôi tại Việt Nam là lợn Thái lan. Kỹ thuật nuôi cũng một phần được du nhập từ nước này.
Theo Chăm Niên Thoong Phăn Chăng (2002) việc săn bắn lợn rừng ở Thái lan cũng xảy ra nhiều do không bị cấm. Có ngày hàng ngàn kg thịt lợn rừng bị să bắn được bán trên thị trường. Hơn thế, ”Tổ hợp tác nuôi lợn rừng Sa Sơng Sau” cho biết do thiếu nên thịt lợn rừng cũng được nhập từ Malaysia với số lượng khoảng 10 tấn trong một ngày. Tuy nhiên do nhu cầu tăng nên dân chúng đã thuần dưỡng và chăn nuôi chúng.
Cũng theo tác giả trên, thì chăn nuôi lợn rừng ở Thái lan có thể đã xuất hiện khoảng năm 2000 mới có hai, ba trại, thì năm 2002 đã có đến hàng trăm trang trại ở tất cả các tỉnh.
Có những giai đoạn nhu cầu ội địa và xuất khẩu tăng, các lái buôn tranh nhau gom hàng, dân chúng đua nhau nuôi lợn rừng, thành lập các hiệp hội, các trang trại chuyên hóa: lợn giống, lợn sinh sản, lợn hậu bị, lợn thịt. Các loại thức ăn chuyên cho lợn rừng cũng được sản xuất. Nhà nước cũng có tác động tới: ”Tổ hợp tác nuôi lợn rừng Sa Soong Sau” cho biết hiện nay ngân hàng ủng hộ cho vay vốn để nuôi lợn rừng.
Qui mô chăn nuôi cũng khác nhau, nhà nông nuôi đôi ba con, nhưng cũng có trang trại đến ngàn con nuôi trên một diện tích lớn đến 10Ha. Số lợn nái trong một trang trại nuôi lợn sinh sản dao động từ 10 – 200 nái.
Vì sao ở Thái lan lợn rừng được đánh giá cao? Theo Chăm Niên Thoong Phăn Chăng (2002) thì thịt lợn rừng khá ngon, đậm đà, không mỡ, các món chế biến từ da lợn rừng khá hấp dẫn thực khách bởi dòn, mềm. Thêm nữa, người nông dân đã rất khó khăn trong việc nuôi lợn thông thường. Trong lúc đó nuôi lợn rừng cần ít vốn hơn 5 lần so với việc nuôi lợn thông thường, lợn ít bệnh, chuồng trại không cầu kỳ, lợn rừng lại ăn tạp. Lợn rừng đương nhiên hung dữ, nhưng nếu biết cư xử với chúng thì chẳng vấn đề gì.
Công ty TNHH trang trại Quốc Tế ( Huyện Châu Thành, tỉnh Nakhon Pa Thổm) cho biết: Lợn rừng dễ nuôi, không cần chăm sóc nhiều đến nó; lợn có sức đề kháng cao, từ lúc nuôi đến nay không xuất hiện một thứ bệnh tật nào. Tiêu thụ thức ăn chỉ bằng 1/5 thức ăn của lợn nhà. Giám đốc công ty này cho rằng: ”Lợn rừng là lợn nhà nghèo nuôi để bán cho những người giàu ăn bởi vì chi phí bỏ ra rất ít nhưng lại bán đắt”.
Lãi suất trong chăn nuôi lợn rừng Thái Lan được thể hiện qua một số số liệu sau:
Theo Chăm Niên Thoong Phăn Chăng (2002), một con lợn giống bán cũng được 3,3 triệu (250USD – 10.000 bath), lợn con 2 thángg tuổi được 0,8 – 1,5 triệu đồng (65 – 85 USD, 2.500 – 3.500 bath), thịt bán được 0,3 triệu đồng (2.5 – 3 USD – 100 – 120 bath).
Khi nuôi lợn rừng được 1 năm tuổi để bán, chi phí thức ăn bỏ ra không quá 2.000 bath = 700.000đồng. Hiện nay bán 1 đôi 3.500bath ~ 1.500.000đ.
Một số thông tin từ các trang trại nuôi lợn rừng Thái Lan như sau:
-      Các trang trại làng Bán Bưng: với kinh nghiệm 10 năm nuôi lợn rừng. ” Hồi trước gá còn rẻ mỗi con khoảng 200 – 300 bath tương đương 70.000 – 100.000đ/con, có khi lên đến 300.000 – 400.000đ/con cũng bắt về trại nuôi dự trữ, vào thời buổi đó cũng chưa nghĩ tới là nuôi theo dạng kinh doanh, nhưng cũng bán được. 20.000 – 30.000bath ~ 7-10triệu đồng, 2 tháng tuổi 1 đôi 3.000bath ~ 1 triệu đồng.
-      Trang trại Bò Thoong (lớn nhất Thái Lan) của nữ gia LEK bắt đầu bằng 20 con. Khi nuôi lợn con đủ thời gian là 2 tháng lợn có thể bán được. 1 đôi có giá 1 triệu đồng( 3.000 bath), 3 tháng 1 đôi bán được 1,5 – 2,0 triệu đồng (4.500-6.000bath), cao nhất là 2,5 triệu đồng (7.000bath), tùy theo chất lượng lợn rừng bán ra tức là hình dáng, hình thức của lợn con.
-      Trang trại gây giống lợn rừng ở khu vực miền Đông Bắc Thái Lan – Trại NUNTHAPHISAN: nuôi 100 nái. Lợn 2 tháng tuổi bán 1.000bath/cặp, lợn mẹ 2 năm tuổi bán 3,5 triệu (10.000bath)/con.
-      Trại ANURAK SUKRAT nuôi 10 con nái với 2 đực giống. Tổng số tiền xây dựng chuồng trại và mua giống lợn rừng bố mẹ tổng cộng 40 triệu (130.000bath)
-      Công ty TNHH trang trại Quốc Tế (huyện Châu Thành, tỉnh Nakhon Pa Thổm), bắt đầu nuôivới một cặp lợn. Nay hàng ngày có hàng trăm lợn rừng được làm thịt.
Nhân giống: Cũng theo tác giả trên, tại Thái Lan, người ta cũng lai lợn rừng mặt dài với mặt ngắn để tạo ra con lai thích nghi và khỏe mạnh hơn. Đôi nơi còn lai với lợn Duroc.
Theo Chăm Niên Thoong Phăn Chăng (2002) thì tỉ lệ chết đến khi cai sữa là 20%.
Các loại bệnh xảy ra với lợn nhà cũng có thể xảy ra với lợn rừng và lây sang lợn rừng được như nhau, như bệnh lây nhiễm vi khuẩn, vi rút, nấm mốc, sán lãi kể cả bên ngoài và bên trong, đừng có nghĩ rằng lợn rừng sẽ chịu đựng được các loại bệnh trên.
2.3 Khai thác và chăn nuôi lợn rừng tại Việt Nam
Ở Việt Nam, trước đây lợn rừng được săn bắn tự do, do chúng sinh sản nhiều, phá mùa màng, thậm chí gây tai nạn cho người. Cũng như nhiều nước khác, thịt lợn rừng được xem là thịt đặc biệt, ngọt, thơm, da giòn. Giá bán một kg thịt lợn rừng săn đắt gấp 2 – 4 lần thịt lợn thường. Đầu lợn được trang trí, làm đẹp và sau đó được treo vào những vị trí trang trọng trong nhà; răng nanh được mài dũa, lắp thêm những nạm bạc và mắc vào dây chuyền đeo cổ.
Theo Lê Hiền Hào (1973), Ở Miền Bắc lợn rừng hầu như có mặt tất cả các vùng có sinh thái đa dạng. Số lượng să bắn và đánh bẩy được hàng năm khoảng 1 vạn con. Thợ săn không thích săn lợ rừng lắm vì chúng rất nguy hiểm, sẵn sàng đánh trả quyết liệt lại người săn.
Miền Trung (Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Phú Yên,...) còn có tập quán Tết ăn thịt heo rừng lấy ”hên” (may), Từ 20 âm lịch đến mùng 4 Tết, thịt lợn rừng ở thị trấn Trà My (Bắc Trà My), hay Tắk Pỏ có giá dao động từ 400.000 đồng một ký, thịt rắn hổ mang từ 200.000 đồng một ký, thịt nai từ 350.000 đồng một ký,... tăng gấp 2-3 lần ngày thường. (Ba Em – Bích Đào, 2011) , Hồng Sơn (2008) cũng có những thông tin tương tự tại Phú Yên.
Theo htttp://xanhha.vn (2010) thì thịt lợn rừng còn có tác dụng sau:
- Thịt lợn rừng (dã trư nhục) chứa 17% protein, 0,5% lipid, có vị ngọt, tính bình, không độc, có tác dụng tư bổ, nhuận da, trị hư nhược, trừ kinh giản, cầm máu, chữa sốt rét, động kinh, băng huyết, kiết lỵ ra máu. Dạng dùng thông thường là thức ăn – vị thuốc, nấu ăn hằng ngày.
- Mỡ lợn rừng (dã trư cao). Khi săn bắn được lợn rừng, đồng bào miền núi thường lột da, rồi treo trên giàn bếp (mỡ lợn có rất ít ở thịt mà chỉ khu trú ở dưới lớp da và ngay trong da). Khi cần mỡ, họ hơ da lợn lên than hồng để mỡ chảy ra, hứng lấy mà dùng. Họ lấy mỡ đến khi da teo quắt lại mới thôi. Mỡ lợn rừng có vị ngọt, tính bình, có tác dụng làm tăng tiết sữa và làm se bụng. Phụ nữ sau khi sinh con, nếu thiếu sữa, thường lấy mỡ lợn rừng, 1-2 thìa cà phê, hòa với ít rượu, uống làm 3 lần trong ngày. Dùng mỡ lợn rừng bôi ngoài để chữa bỏng, nhọt độc, ghẻ ngứa, vết thương.
- Mật lợn rừng (dã trư đảm) chứa acid chenodesoxycholic, acid 3a– hydroxy-6-oxo-5a cholanic, acid lithocholic, có vị đắng, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc. Mỗi lần dùng 1,5-2g mật hòa với rượu, uống chữa sản hậu, thũng độc (tài liệu nước ngoài). Dùng ngoài, bôi nước mật để chữa bỏng lửa.
- Dương vật và tinh hoàn lợn rừng (dã trư âm kinh) phơi hoặc sấy khô, giã nhỏ, rây bột mịn; ngày uống 6-12g chữa liệt dương, di tinh, lưng đau, gối mỏi. Dùng ngoài, lấy dương vật giã nhỏ với nõn cây chuối rừng, đắp băng để rút tên, đạn hoặc que cắm vào da thịt. (Kinh nghiệm của đồng bào Tây Nguyên).
Người ta còn dùng móng chân lợn rừng (dã trư đề) sao với cát cho phồng, tán bột uống để chữa trúng phong, tê bại. Phân lợn rừng (dã trư phẩn) chữa hoàng đản, thủy thũng, chướng bụng. Răng lợn rừng (dã trư nha) chữa sốt cao, phát cuồng, ung nhọt, thổ huyết. Sỏi mật lợn rừng (dã trư hoàng) chữa kinh phong, kiết lỵ ra máu, mụn lở chảy nước vàng.
Tuy nhiên lợn rừng ngày càng trở nên khan hiếm do săn bắn quá nhiều, diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp lại. Mặc dù không nằm trong danh sách “đỏ” nhưng chúng vẫn bị cấm săn bắn và nuôi nó cũng phải có giấy phép của Kiểm Lâm, kể cả khi con giống vốn là lợn rừng nhập từ Thái Lan.
Chăn nuôi lợn rừng tại Việt Nam bắt đầu từ năm 2001 với sự kiện nuôi lợn rừng của Ông Bảy Dũng (50 tuổi, cán bộ Phòng Kiểm Sát huyện Đồng Phú) vốn là một thợ săn. Ông đã thuần hóa một số lợn đực rừng lai với giống lợn đen của các dân tộc thiểu số vùng đó.Đến tháng 10 năm 2006 Ông đã bán được 300-400 con với giá 200.000đ/kg. Năm đó đàn lợn của Ông còn 3 đực giống lợn rừng Việt Nam ( Ước tính trên 1 tạ mỗi con), 25 con lợn lai giữa lợn rừng Việt Nam và lợn bản địa. Ông cũng nuôi 1 con lợn con (20kg) lợn rừng Việt Nam (Nguyễn Lộc, 2006).
Đầu tư ít, thu hoạch lớn, nên nhiều người đã theo nhau chăn nuôi loại vật này. Và một bước ngoặc lớn đã đến với nghề chăn nuôi mới mẻ này. Đó là tháng 5/2005 Công ty TNHH Khánh Giang đã nhập về 100 lợn rừng Thái Lan đầu tiên về Bình Phước theo giấy phép số 409/CV-NN-CN ngày 23/3/2005 và số 594/TY-KD ngày 25/5/2005 (Đỗ Kim Tuyên, 2006). Tiếp đó là hàng ngàn lợn được các công ty khác nhau, nhiều nhất là “Công ty Bạn của Bạn” và Thiên Thiên Ý ( Cả hai đều là của Ông Trương Ngạt, sống ở TP.HCM) nhập về.
Theo Ông Đỗ Kim Tuyên, qua nghiên cứu chăn nuôi lợn rừng ở Công ty TNHH Khánh Giang, cho biết, lợn rừng Thái Lan ăn và sử dụng có hiệu quả nhiều loại thức ăn có trong tự nhiên hơn bất kỳ vật nuôi nào mà con người đã có, như cây chuối, hoa chuối, bẹ chuối, rau muống, rau đắng, ngọn mía, bèo tây, lá rau lấp, ngô hạt, ngô bắp, cây ngô, củ sắn, khoai tây , măng tre, cỏ tươi, xoài, dưa hấu, vỏ mít, rau sống, vv… Các loại rau trồng, rau dại, phần bỏ đi của tất cả các loại rau sau khi mua bán loại ra ở chợ đều có thể làm thức ăn cho lợn rừng. Lợn có khả năng thích ứng và đề kháng tốt với khí hậu nóng ẩm của Miền Đông Nam Bộ ít bệnh tật, phù hợp với điều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc của nông dân Việt Nam. Tỷ lệ sinh sản cao: 2 lứa đẻ/ năm, từ 5-10 con/lứa. Khả năng sử dụng thức ăn rất tốt (chi phí thức ăn hàng ngày chỉ bằng 1/5 lợn nhà), nguồn thức ăn dễ tìm và rẻ. Chi phí xây dựng chuồng trại thấp. Giá bán giống và sản phẩm lợn rừng cao do nhu cầu thị trường trong nước về giống và thịt lợn rừng hiện nay là rất lớn.
 
Thông tin liên quan
Hình 2: Xương đầu của heo rừng dựa vào xương lệ để xác định giống  (02/06/2013)
Hình 1: Bộ khung xương heo rừng (Wild Boar)  (02/06/2013)
PHẦN IV: TẬP TÍNH CỦA HEO RỪNG  (30/05/2013)
PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM CỦA HEO RỪNG  (29/05/2013)
PHẦN I: KHAI THÁC VÀ CHĂN NUÔI HEO RỪNG TRÊN THẾ GIỚI  (27/05/2013)
KHÁI NIỆM VỀ THỊT SẠCH VÀ MỐI QUAN TÂM CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG VỀ AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM   (26/09/2012)
0919 599 600
Video Clip         Xem thêm ...
Get the Flash Player to see this player.
Thông Tin Cần Biết
Tỉ Giá - Giá Vàng
Thời Tiết
Chứng Khoán (HOSE)
Chứng Khoán (HNX)
Chứng Khoán (OTC)
Lượt truy cập : 859269
Trực tuyến : 4
Designed & Powered by NEWTAB CO., LTD.