Javascript DHTML Drop Down Menu Powered by dhtml-menu-builder.com
Kinh Doanh
Danh Mục Sản Phẩm
Kỹ Thuật Trang Trại
Hỗ Trợ Trực Tuyến
Lâm Thanh Liêm
0919 599 600
Lâm Thanh Liêm
0919 599 600
Lâm Thanh Liêm
0919 599 600
Liên kết website
Kỹ Thuật Chăn Nuôi

Kỹ thuật chăn nuôi lợn rừng THÁI LAN.

( Cập nhật : 07/10/2012 20:19:42 )

Tài liệu của Tiến sĩ Võ Văn Sự cung cấp.

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆN CHĂN NUÔI
 
 
 
QUY TRÌNH KỸ THUẬT
CHĂN NUÔI LỢN RỪNG
Chủ Biên
TS Võ Văn Sự
Tham gia
TS Trịnh Phú Ngọc
 
Ks Phạm Hải Ninh
 
ThS Tăng Xuân Lưu
 
Bộ môn Động vật quý hiếm và Đa dạng sinh học – Viện Chăn Nuôi
 
Hà nội 01/07/2010
1.      ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI ÁP DỤNG
Quy trình này được áp dụng cho các trang trại chăn nuôi lợn rừng Thái Lan.
2.      NỘI DUNG CỦA QUY TRÌNH
2.1        Chọn giống
2.1.1       Chọn lọc lợn đực giống theo kiểu hình
Lợn đực giống có thể được chọn lọc tại thời điểm hậu bị (khoảng 3 tháng tuổi) hoặc lúc 6 tháng tuổi và sử dụng khi chúng đạt 7-8 tháng tuổi. Không sử dụng đực non vì còn nhỏ.
Kiểm tra và đánh giá năng suất của lợn đực giống thông qua ngoại hình và thể chất bản thân cá thể. Tất cả lợn đực đều mang những đặc điểm giống tốt đặc trưng cho loài:
-     Đầu thanh, mặt dài, lưng thẳng, bụng thon không sệ.
-     4 chân cao, thẳng và vững chắc. Lông bờm dựng đứng chạy dài từ cổ tới lưng.
-     Tinh hoàn lộ rõ, to và cân đối, độ đàn hồi tốt.
-     Tính hăng rất cao.
-     Số con đẻ ra / nuôi sống cao
-     Mang tính “hoang dã”, dữ tợn.
Nếu có điều kiện nên tiến hành chọn lọc qua đời trước (dòng, giống bố mẹ, ông bà...), qua bản thân (ngoại hình, khả năng thích nghi, khả năng SX...) và qua đời sau.
2.1.2       Chn lc ln nái theo kiểu hình
Từ đàn nái hậu bị sẽ tiến hành kiểm tra và đánh giá để làm lợn nái sinh sản.
Khuyết tật: khi chọn lọc nái sinh sản phải không có khuyết tật, nếu có sẽ ảnh hưởng tới khả năng sinh sản và nuôi con. Cần quan tâm tới 3 bộ phận: cơ quan sinh dục, vú và khung xương. Nái chọn lọc cần đạt được những yêu cầu tối thiểu như trên.
-     Phát triển cơ quan sinh dục: toàn đàn hậu bị có cơ quan sinh dục phát triển bình thường cả về hình thể và hoạt động.
-     Phát triển vú: phải đảm bảo cần có số vú đủ để nuôi đàn con đông. Lợn rừng có 5 đôi vú xếp đồng đều mỗi bên, những nái có vú cong vênh, khô hoặc kẹ sẽ không chọn hoặc phải kiểm tra đánh giá lại.
-     Phát triển xương: lợn nái sinh sản phải có khung xương và 4 chân chắc, khoẻ, nhanh nhẹn và linh hoạt. Với những lợn hậu bị có chân yếu sẽ không được chọn lọc vì sẽ ảnh hưởng tới phối giống, đẻ và nuôi con. 
-     Số con đẻ ra cao
-     Không ăn con
2.2        Chuồng trại
2.2.1       Khu chăn nuôi
2.2.1.1      V trí
Xây chuồng hướng Nam hoặc Đông Nam là tốt nhất, tránh gió Đông Bắc thổi trực tiếp vào chuồng. Chuông nuôi đảm bảo luôn khô ráo, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông.
Chọn địa điểm cao ráo, dễ thoát nước, dễ làm vệ sinh. Chỗ nuôi nên có nguồn nước sạch, không những cung cấp đủ nước cho lợn uống mà quan trọng hơn là nó sẽ duy trì được hệ thực vật phong phú và giữ được độ ấm thích hợp cho lợn rừng.
Chuồng trại càng cách xa khu dân cư và đường sá càng tốt. Bản năng hoang dã đã đưa chúng vào tình trạng hết sức cảnh giác và luôn hoảng hốt bỏ chạy khi nghe có tiếng động.
2.2.1.2      Nguyên vật liệu
Có thể làm chuồng bằng tre, nứa, gỗ hoặc quây thép lưới B40 tùy thuộc vào khả năng hiện có và điều kiện cho phép nhưng phải đảm bảo lợn không bị xổng ra ngoài khu vực nuôi.
2.2.1.3      Bố trí mặt bằng
Khu vực chăn nuôi cần được thiết kế xa khu vực dân cư sinh sống, nhà ở, có tưởng vây cao xung quanh. Phía ngoài cần có cổng nhằm tránh sự xâm nhập của người lạ và đảm bảo an ninh. Phía trong có hố sát trùng ngay tại vị trí ra vào, hố sát trùng sẽ có tác dụng cho việc sát trùng vệ sinh người vào tham quan khu vực chăn nuôi cũng như những người công nhân chăn nuôi.
Nên bố trí khu chăn nuôi lợn rừng tại những nơi rộng rãi, thoáng mát, có nhiều cây bóng mát, đầm bùn, nơi có nguồn nước, sông suối .v.v.
2.2.1.4      Hệ thống chống nóng
Chống nóng là một hoạt động rất quan trọng trong chăn nuôi lợn rừng. Trong những ngày nắng nóng, nhiệt độ có thể lên tới 45-460C sẽ gây ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe và sinh trưởng của lợn. Tại các khu chuồng nuôi, cần tiến hành trồng nhiều các loại cây xanh, cây gấc, thiên lý .v.v. Một biện pháp hữu hiệu trong việc chống nắng cho lợn là việc sử dụng tấm lưới đen che phủ trên bề mặt chuồng nuôi tại các vị trí lợn hay tập trung nhiều như khu nhà ở, hồ tắm .v.v. Lưới đen sẽ giúp cho việc giảm nhiệt độ môi trường thấp hơn 2-30C so với bình thường.
2.2.2       Chuồng trại
2.2.2.1      Chuồng lợn nái hậu bị và sinh sản
Kiểu chuồng bán tự nhiên nên có càng nhiều cây xanh phủ mát càng tốt, kín đáo, tối nhưng không ẩm ướt. Chuồng phải được thiết kế đảm bảo vệ sinh, dễ cho ăn, chăm sóc, thoáng mát, trao đổi không khí thuận lợi, tránh sự tác động của môi trường xung quanh chuồng nuôi.
Dùng lưới B40 vây thành các ô nuôi khoảng 300-400m2 (tùy điều kiện của cơ sở nuôi), có trụ đỡ cho bờ rào lưới là các cọc sắt và cọc bê tông, cọc bê tông được dựng vừa có tác dụng làm khung, vừa có khả năng chống đỡ, các cọc sắt cách nhau 1,5-2m. Chân bờ rào đào móng kiên cố và chôn sâu lưới B40 cũng như cọc sắt là 30cm để hạn hạn chế khả năng đào hàng của lợn rừng, chiều cao của lưới đảm bảo 1,2 - 1, 5 trở lên.
Trong ô nuôi lợn rừng đó xây 1 nhà dài có mái che, đủ ánh sáng và tránh nắng, mưa tạt, gió lùa khi lợn rừng vào trú, có thể xây nhà nền xi măng, nếu là nền xi măng cần đổ ít cát vào. Nền nhà được tôn cao hơn xung quanh 20-30cm để tránh bị đọng nước. Cần lót rơm, cỏ khô vào nền chuồng để tránh trơn trượt. Diện tích cần đảm bảo 15-20m2, căn nhà này là nơi lợn rừng trú mưa, trú nắng hoặc nghỉ ngơi ngoài lúc kiếm ăn và chạy đùa.
Chuồng cần đào hoặc xây các hố nước, bùn nông, gần nguồn nước vì lợn rừng thích đầm mình làm mát và hay uống nước.
2.2.2.2      Chuồng lợn đẻ
Về kỹ thuật chuồng lợn đẻ cũng được quây lưới B40 giống như chuồng lợn hậu bị và sinh sản. Tuy nhiên do mật độ 1con/ô nên diện tích chuồng khoảng 30-50m2. Một điểm đáng lưu ý nữa là do mắt lưới B40 tương đối to so với kích thước lợn con nên xung quanh lưới B40 từ dưới đất lên 20cm đảm bảo phải được rào kỹ hoặc được nẹp bằng các thanh tre, gỗ tránh cho lợn con mắc kẹt tại đó.
Bên trong ô nuôi lợn đẻ có 1 nhà nhỏ 6-8m2 để làm ổ đẻ cho lợn, vứt rơm khô, cành cây hoặc lá khô vào lợn sẽ tự làm ổ đẻ trong đó. Ổ đẻ cần đảm bảo cao ráo và tránh ẩm, phía bên ngoài ổ đẻ có cửa để nhốt lợn bên trong khi trời mưa gió. Toàn bộ diện tích còn lại bên ngoài sẽ được làm sân chơi và tập thích nghi dần cho lợn con trong điều kiện sống bán thiên nhiên.
Trong khu vực chuồng lợn đẻ, cần tiến hành ngăn hệ thống tập ăn cho lợn con theo mẹ. Khu vực này có thể nằm trong khu vực nuôi và chiếm diện tích khoảng 3-5m2, có lỗ nhỏ cho lợn chui vào khi tập ăn.
2.2.2.3      Chuồng đực giống
Khu vực nuôi lợn đực giống cần phải xa khu vực chăn nuôi lợn nái và phải được đặt ở phía cuối khu chuồng nuôi hoặc nơi có đầu hướng gió. Các chuồng nuôi lợn đực phải được đặt cách xa nhau và tuyệt đối không được nhốt chung lợn đực. Việc đặt chuồng lợn đực nơi đầu hướng gió sẽ có tác dụng giúp cho việc kích thích động dục ở những lợn nái sau cai sữa hoặc lợn hậu bị.
Dùng lưới B40 vây thành các ô nuôi khoảng 40-50m2 (tùy điều kiện của cơ sở nuôi), có trụ đỡ cho bờ rào lưới là các cọc sắt và cọc bê tông, cọc bê tông được dựng vừa có tác dụng làm khung, vừa có khả năng chống đỡ, các cọc sắt cách nhau 1,5-2m. Chân bờ rào đào móng kiên cố và chôn sâu lưới B40 cũng như cọc sắt là 30cm để hạn hạn chế khả năng đào hàng của lợn rừng, chiều cao của lưới đảm bảo 1,2 - 1, 5 trở lên.
Bên trong ô nuôi lợn đực có 1 nhà nhỏ 6-8m2 có mái che, đủ ánh sáng và tránh nắng, mưa tạt, gió lùa khi lợn rừng vào trú, có thể xây nhà nền xi măng, nếu là nền xi măng cần đổ ít cát vào. Nền nhà được tôn cao hơn xung quanh 20-30cm để tránh bị đọng nước. Cần lót rơm, cỏ khô vào nền chuồng để tránh trơn trượt. Đây nơi lợn rừng trú mưa, trú nắng hoặc nghỉ ngơi ngoài lúc kiếm ăn và chạy đùa.
2.2.2.4      Chuồng lợn sau cai sữa
Lợn sau khi được cai sữa sẽ được nhốt chung giữa các đàn có độ tuổi gần tương đồng nhau. Có thể nhốt đực riêng, cái riêng hoặc nếu không có điều kiện về chuồng nuôi thì có thể nhốt chung đực cái. Tuy nhiên đến thời điểm 3-4 tháng tuổi cần tách đực riêng cái riêng vì thời điểm này một số lợn đã có thể có biểu hiện về động dục.
Về cơ bản, việc xây dựng các khu chuồng nuôi dành cho lợn sau cai sữa cũng giống như các loại lợn khác. Nếu cơ sở có điều kiện về đất đai thì có thể quy hoạch khu vực này rộng để lợn có thể chạy nhảy, vui đùa.
2.2.3       Máng ăn, máng uống
Máng ăn, máng uống được thiết kế cố định tại phía đầu chuồng và là nơi thấp nhất, điều này giúp cho việc dọn dẹp và luôn đảm bảo vệ sinh được sạch sẽ.
Máng ăn, máng uống cần có độ cao thích hợp (12-20cm), tuỳ theo khối lượng của lợn. Chiều dài của máng được thiết kế dài 1,8-2m, đáy máng rộng 20-30cm. Loại máng xây cố định thì đáy máng phải cao hơn so với mặt nền 5-7cm để dễ thoát nước khi cọ rửa.
Vệ sinh: bên ngoài chuồng nuôi phải có hố chứa nước thải, có nắp đặy nếu cần thiết, đảm bảo vệ sinh thú y và môi trường.
2.2.4       Diện tích chuồng nuôi
Như đã nói ở phần trên, diện tích khu vực chuồng nuôi tùy thuộc vào điều kiện diện tích của cơ sở. Tuy nhiên lợn rừng là 1 loài động vật có bản tính “hoang dã”, ưa hoạt động, chạy nhảy nên chúng tôi có thể khuyến cáo diện tích chuồng nuôi tối thiểu dành cho lợn rừng như sau:
-     Lợn đực giống: 30-40m2/chuồng.
-     Lợn nái, hậu bị: 200-300m2/chuồng/5-6con.
-     Lợn nái đẻ, nuôi con: 30-35m2/ổ.
-     Lợn sau cai sữa: 100-200m2/chuồng/20-30 con.
2.3        Nuôi dưỡng
2.3.1       Thức ăn
Lợn rừng Thái Lan là loài ăn tạp, dạ dày đơn, hệ thống tiêu hóa của động vật hoang dã nên có khả năng lợi dụng thức ăn tốt, tiêu tốn thức ăn (cho ăn thêm) trên một kg tăng trọng chỉ bằng 1/5 so với lợn nhà. Lợn rừng trong điều kiện hoang dã còn ăn cả côn trùng, giun, xác động vật chết hoặc bất kỳ thứ gì trong môi trường tự nhiên mà nó kiếm được.
Chính vì vậy khi lợn rừng được nuôi trong trang trại, nó có khả năng ăn và sử dụng có hiệu quả nhiều loại thức ăn có trong tự nhiên hơn bất kỳ vật nuôi nào mà con người đã có. Kết quả nghiên cứu cho thấy lợn rừng ăn tất cả các loại thực vật như rau, quả thường dễ kiếm như cây chuối, hoa chuối, bẹ chuối, rau muống, rau đắng, ngọn mía, bèo tây, lá rau lấp, ngô hạt, ngô bắp, cây ngô, củ sắn,  khoai tây, măng tre, cỏ tươi, xoài, dưa hấu, vỏ mít, rau sống v.v . Các loại rau trồng, rau dại, phần bỏ đi  của tất cả các loại rau sau khi mua bán loại ra ở chợ đều có thể làm thức ăn cho lợn rừng.
Thức ăn thô xanh (các loại cỏ, cây, mầm cây, rễ cây ), thức ăn tinh (hạt ngũ cốc, củ quả), thức ăn bổ sung muối khoáng như tro bếp, đất sét, hỗn hợp đá liếm .v.v.
2.3.2       Khẩu phần ăn
Khẩu phần thức ăn cho lợn rừng thông thường: 50% là rau, củ, quả các loại (có thể sản xuất tại trang trại), 50% là cám, gạo, ngũ cốc các loại, hèm bia, bã đậu . . . Mỗi ngày cho ăn 2 lần (sáng, chiều).
Thức ăn cho lợn rừng do con người cung cấp có thể thiếu dinh dưỡng, nhất là đạm, khoáng và sinh tố... cho nên ngoài việc bổ sung thức ăn tinh giàu đạm, muối, sinh tố, cần thiết phải bổ sung thêm đá liếm cho lợn rừng liếm tự do (lưu ý để nơi khô ráo, mát mẻ). Hỗn hợp đá liếm bổ sung khoáng có thể mua hay tự trộn theo tỷ lệ (muối ăn 100g; sắt sun phát 100g: đồng sun phát 50g; diêm sinh 100g; vôi tôi 1.000g .v.v. đất sét vừa đủ 3kg) cho lợn liếm tự do cũng chỉ hết khoảng 20- 25 gam/con/ngày.
Thức ăn của lợn rừng nên chủ yếu là thức ăn thô xanh. Không nên lạm dụng thức ăn giàu dinh dưỡng để nuôi lợn rừng vì nó sẽ làm cho phẩm chất thịt của lợn rừng bị biến đổi và nhiều khi làm cho lợn bị bệnh rối loạn tiêu hóa gây tiêu chảy.
Lợn rừng ăn nhiều thức ăn xanh tươi nên ít uống nước, tuy nhiên cũng cần có đủ nước sạch và mát cho lợn uống tự do. Hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, dọn bỏ thức ăn thừa, rửa sạch máng ăn, máng uống.
Tùy theo từng lứa tuổi lợn sẽ có các mức chế độ ăn khác nhau cho phù hợp với khả năng thu nhận và sử dụng. Nên sử dụng phương pháp “ăn tự chọn” (choice feeding), lợn sẽ ăn các loại thức ăn mà chúng ưa thích. Cần bổ sung thêm các loại thức ăn tinh giàu đạm như cám viên hỗn hợp, đậm đặc, bột cá vào khẩu phần ăn đối với lợn chửa hoặc đang nuôi con. Mức ăn khuyến cáo có thể áp dụng cho các loại lợn như sau:
*     Lợn hậu bị, lợn đực giống:
Bảng 1: Mức ăn cho lợn hậu bị /ngày
Khối lượng lợn
(kg)
Thức ăn hỗn hợp
(kg/ngày)
Thức ăn thô xanh
(kg/ngày)
Số bữa
ăn/ngày
10-20
0,5
0,81-1,0
2
20-40
0,8
1,2-1,5
2
>40
1,0
Tự do
2
*     Lợn nái chửa:
Bảng 2: Mức ăn cho lợn nái chửa
Giai đoạn mang thai
Lợn chửa
Mức ăn có thể điều tiết
Chửa kỳ 1 (84ngày)
1,0
1,0-1,2
Chửa kỳ 2 (ngày 84 đến 110)
1,5
1,5-2,0
Ngày chửa 111, 112, 113
1,0
1,0
Ngày cắn ổ đẻ
 
0,5
(hoặc nhịn)
0,5
(hoặc nhịn)
Nước uống
Tự do
Tự do
* Lưu ý: số lượng thức ăn cho lợn nái chửa kỳ 2 tăng hơn 25-30% so với chửa kỳ 1. Trước khi đẻ 2 ngày giảm lượng thức ăn của lợn nái, đặc biệt thức ăn thô xanh.
*     Lợn nái nuôi con:
Bảng 3: Chế độ ăn cho lợn nái nuôi con
Giai đoạn nuôi con
Lượng thức ăn /con/ngày
Thức ăn tinh (kg)
Thức ăn xanh (kg)
Ngày cắn ổ đẻ
0,3-0,5
Không
Sau đẻ:
Ngày thứ 1
0,3
0,5
Ngày thứ 2
0,5
1
Ngày thứ 3
1,0
1-1,5
Ngày thứ 4 đến thứ 7
1,2
Tự do
Ngày thứ 8 đến cai sữa
1,5-2,0
Tự do
2.4        Chăm sóc và quản lý
2.4.1       Chăm sóc
2.4.1.1      Lợn hậu bị
* Chế độ chăm sóc:
-         Thường xuyên chọn lọc, theo dõi khả năng sinh trưởng và phát dục của lợn.
-         Chuồng nuôi sạch sẽ thoáng mát, nhiệt độ thích hợp.
-         Kiểm tra tình hình đàn lợn thường xuyên: sức khoẻ, lượng thức ăn thu nhận, máng ăn, vòi uống, bạt che. 
-         Vệ sinh chuồng trại: Vệ sinh máng ăn, máng uống, thu gom phân, làm vệ sinh chuồng.
-         Tẩy giun sán cho lợn vào đầu kỳ khi lợn đạt khối lượng 7-10kg và trước khi phối giống.
-         Tiêm phòng đủ các loại vacxin theo quy định để phòng bệnh cho lợn.
-         Định kỳ tẩy uế, khử trùng chuồng nuôi và dụng cụ chăn nuôi.
-         Mùa đông che chắn giữ ấm cho lợn, mùa hè tạo thoáng mát cho chuồng nuôi.
2.4.1.2      Lợn đực giống
-         Khẩu phần ăn 1kg/con/ngày, chia đều 2 bữa cho ăn vào lúc 7h sáng và 16h chiều.
-         Rau xanh, thức ăn củ quả được cho ăn tự do, đảm bảo >1,5kg thức ăn xanh trở lên.
-         Trong những ngày phối giống, bổ sung cho con đực đi nhảy lợn nái 2 quả trứng sống, giá đỗ hoặc lúa nảy mầm 0,5kg/con.
-         Khoảng cách giữa 2 lần khai thác tinh phải phù hợp. Thời gian 3 tháng đầu có thể khai thác 1-2 lần /tuần, thời gian sau khai thác 2-3 lần /tuần.
2.4.1.3      Lợn nái chờ phối và lợn nái chửa
* Chế độ chăm sóc:
-         Thức ăn đảm bảo đầy đủ chất dinh dưỡng, không bị ôi thiu, mốc.
-         Mức ăn trong ngày của lợn nái chửa còn phụ thuộc vào thể trạng của lợn nái. Lợn nái gầy phải cho ăn tăng, lợn nái quá béo phải giảm thức ăn đã phối trộn nhưng phải tăng thức ăn thô xanh.
-         Mùa đông khi nhiệt độ trong chuồng nuôi <150C lợn nái cần được ăn tăng thêm (0,2-0,3kg/ngày) để bù vào phần năng lượng mất đi do phải chống lạnh.
* Một số loại thức ăn không nên sử dụng cho lợn nái chửa:
-         Bỗng bã rượu tốt cho lợn thịt nhưng không tốt cho lợn nái. Nếu ăn nhiều sẽ kích thích gây xảy thai.
-         Khô dầu bông có thể gây chết thai.
-         Lá đu đủ tốt với nái nuôi con nhưng không tốt cho lợn nái chửa vì làm giảm nhịp đập của tim gây khả năng nuôi thai kém.
2.4.1.4      Lợn nái nuôi con
* Chuẩn bị:
-         Trước khi đưa lợn đẻ vào cần vệ sinh sát trùng, tiêu độc chuồng. Để trống chuồng 7-10 ngày sau mới đưa lợn vào.
-         Dùng rơm rạ, cỏ khô, cành cây vứt vào trong chuồng, lợn mẹ sẽ tìm cách tha về và tự tạo lên ổ đẻ.
-         Vật liệu lót ổ úm: rơm, cỏ khô cần được cắt ngắn...yêu cầu phải mềm, khô, sạch và không vụn nát.
-         Dụng cụ sưởi ấm: bóng đèn điện, trấu để sưởi ấm cho lợn con khi nhiệt độ môi trường dưới 350C
-         Nhiệt độ thích hợp cho lợn con sơ sinh trong 3 ngày đầu là 32-350C, sau đó giảm dần ở mức 25-270C từ ngày thứ 8 đến khi cai sữa.
* Xử lý lợn đẻ bọc và bị ngạt
-         Lợn đẻ bọc phải xé bọc ngay và lấy sạch dịch ở mũi, tránh cho lợn con bị ngạt.
-         Lợn con bị ngạt thì cần thổi hơi vào mồm.
-         Nếu lợn con chưa tỉnh thì ngâm lợn trong nước ấm 30-350C trong thời gian 5-10 phút rồi hô hấp nhân tạo.
-         Với lợn con vừa được sinh, nếu phải can thiệp trong quá trình đẻ ta nên dùng tay vuốt lại cuống rốn từ ngoài vào trong bụng để máu ở cuống rốn trở lại vào cơ thể lợn con. Sau đó bấm nanh và cho lợn con bú sữa đầu.
* Chuyển ghép con nuôi:
-         Chuyển ghép một số lợn con từ các nái đẻ nhiều sang các nái đẻ ít đảm bảo tính đồng đều trong ổ hoặc khi lợn mẹ bị chết hoặc không có sữa cho con bú.
* Lưu ý:
-         Khẩu phần ăn cho lợn nái đẻ phụ thuộc vào số lượng lợn con theo mẹ và thể trạng của lợn nái.
-         Lượng thức ăn tăng dần từ ngày thứu 1 đến ngày thứ 7. Từ ngày thứ 8 trở đi cho lợn nái ăn theo khả năng và không hạn chế.
-         Cho lợn nái ăn 3-4bữa /ngày sẽ giúp lợn ăn được nhiều hơn và tiêu hoá tốt hơn, 2 bữa chính được ăn vào sáng chiều, buổi trưa sẽ được ăn bữa phụ.
2.4.1.5      Lợn con theo mẹ
* Cho lợn con bú:
-         Cho lợn con bú sữa đầu càng sớm càng tốt (sữa của lợn nái 3 ngày đầu sau đẻ).
-         Tiêm sắt cho lợn con: lần 1 tiêm 3 ngày sau đẻ, liều 1ml (100mg). Lần thứ 2 tiêm vào ngày thứ 10 sau đẻ, liều 2ml (200mg).
* Cho lợn con tập ăn sớm:
-         Cho lợn con tập ăn bằng thức ăn hàng ngày của lợn mẹ kèm theo thức ăn tập ăn của lợn con khi lợn được 15 - 20 ngày tuổi, cho ăn 3 - 4 lần/ngày. Đảm bảo trong máng luôn có thức ăn sạch, giữ được mùi vị. Những ngày đầu nên cho ít thức ăn để lợn làm quen và nhận biết thức ăn, những ngày sau tuỳ khả năng thu nhận để tăng dần lượng thức ăn.
2.4.1.6      Lợn con sau cai sữa
* Chuẩn bị chuồng trại
-         Đảm bảo ô chuồng rửa sạch và sát trùng sạch sẽ.
-         Sắp xếp lợn theo các ô theo tính biệt, dòng giống, khối lượng sao cho tương đồng. Đảm bảo cho lợn trong cùng một chuồng nuôi có độ đồng đều về khối lượng và ngày tuổi.
-         Không nhốt lợn quá 30 con/ô chuồng.
* Điều kiện chuồng nuôi:
-         Chuồng nuôi phải khô ráo, ấm áp, được che chắn để tránh gió lùa.
-         Những ngày đầu lợn con mới tách mẹ nên giữu nhiệt độ chuồng nuôi tương đương nhiệt độ chuồng nuôi trước cai sữa. Nhiệt độ thích hợp cho lợn con sau cai sữa từ 25-270C. Thay đổi nhiệt độ chuồng nuôi đột ngột sẽ rất có hại cho lợn con, đặc biệt vào mùa đông lợn dễ bị viêm phổi.
-         Quan sát đàn lợn để biết nhiệt độ chuồng nuôi:
o    Lợn đủ ấm: con nọ nằm cạnh con kia
o    Lợn bị lạnh: nằm chồng chất lên nhau, lông dựng, mình mẩy run,
o    Lợn bị nóng: nằm tản mạn mỗi con 1 nơi, tăng nhịp thở.
* Chế độ ăn:
-         Thức ăn cho lợn con sau cai sữa phải dễ tiêu, có hàm lượng dinh dưỡng cao, đủ chất, không bị ôi thiu, mốc... Có thể dùng 1 số loại thức ăn như bột ngô, bột đậu tương, gạo lứt, tấm xay...
-         Sau cai sữa, quan sát nếu không thấy hiện tượng tiêu chảy, nâng dần lượng thức ăn theo mức ăn tăng của đàn lợn. Thông thường cho lợn ăn khẩu phần ăn tự do.
2.4.2       Quản lý
2.4.2.1      Quản lý lợn cái hậu bị
Những lợn cái hậu bị này đều được chọn lọc từ những dòng có khả năng sinh đẻ và nuôi con tốt. Trong đàn có những nái có tuổi động dục lần đầu từ rất sớm: 4, 5 tháng tuổi. Tuy nhiên thực tế ta nên bỏ qua 1-2 lần động dục đầu tiên, thường đợi đến lần động dục thứ 3 sẽ cho phối giống lần đầu nhằm tăng mức độ rụng trứng. Tuy nhiên việc lựa chọn nên phối giống ở lần động dục thứ 3 hay không còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố ảnh hưởng khác như: giá cả thức ăn, nguồn nhân lực...
Phát hiện động dục:
-     Chu kỳ động dục của lợn rừng là 21 ngày, thời gian động dục trong khoảng 2-4 ngày, và thông thường là 3 ngày. Trong ngày đầu động dục, âm hộ lợn sưng đỏ, cửa âm hộ có dịch nhờn loãng, hay nhảy lên lưng lợn khác và có phản xạ giao phối như con đực, khi có lợn đực hoặc mùi lợn đực thì con cái mới kêu rên thành tiếng... Vì vậy cách phát hiện lợn nái động dục tốt nhất là đưa 1 con đực vào trong chuồng lợn nái. Lợn đực sẽ nhanh chóng tìm ra con nái nào có biểu hiện động dục.
-     Ngày tiếp theo, âm hộ lợn cái bớt sưng, chuyển từ màu đỏ hồng sang màu tím tái, dịch nhờn keo đặc hơn. Trạng thái đi đứng không yên, bồn chồn cao độ. Khi lợn nằm hoặc đứng, ấn mông là lợn sẽ đứng yên và vểnh đuôi sang 1 bên. Đây là thời điểm phối giống tốt nhất cho lợn nái.
-     Sau giai đoạn mê ì ở ngày thứ 2, tuy lợn rừng cái vẫn còn những biểu hiện động dục nhưng cường độ yếu hơn và có thể không cho lợn đực phối.
2.4.2.2      Quản lý lợn nái sinh sản
Quản lý phối giống: thời gian phát hiện động dục là 1 chỉ tiêu rất quan trọng ảnh hưởng tới tỷ lệ thụ thai. Nếu phối quá sớm hoặc quá muộn, tỉ lệ thụ thai và số con sinh ra trong ổ bị giảm sút nhanh chóng. Thời điểm phối giống thích hợp vào cuối ngày thứ 2 hoặc đầu ngày thứ 3 (tùy theo giống, tuổi) cho nên cần theo dõi biểu hiện của heo lên giống. Khi âm hộ chuyển từ màu hồng tươi sang màu hồng tái, có nếp nhăn và dịch nhờn tiết ra nhiều, tai chĩa về phía trước, có phản xạ đứng im (mê ì) là thời điểm phối giống thích hợp nhất.
Bỏ qua 1-2 lần động dục đầu tiên, vì cơ thể chưa hoàn thiện, trứng rụng ít, phối giống, đậu thai hiệu quả thấp. Khi lợn cái có dấu hiệu động dục ta cho lợn đực tiếp xúc với lợn cái. Lợn đực sẽ phối giống liên tục, bất kể ngày đêm đến khi nào lợn cái không chịu nữa mới thôi. Có thể cho phối kép 2 lần vào lúc sáng sớm và chiều mát (hoặc ngược lại).
Tỷ lệ đực /cái cũng là 1 chỉ tiêu rất quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng và thời hạn sử dụng đực giống. Tỉ lệ lợn nái /lợn đực là 5: 1 đối với đực trưởng thành và 3: 1 đối với đực trẻ (dưới 1 năm tuổi).
Phát hiện có chửa: những lợn cái đã phối giống được theo dõi nếu sau 18-25 ngày sau khi phối giống không có biểu hiện động dục trở lại thí có thể kết luận rằng lợn nái đó đã có chửa.
2.4.2.3      Quản lý lợn đẻ
Khi gần đẻ, lợn mẹ tách bầy với đàn nuôi chung (với những trang trại nuôi bán chăn thả), bới tìm chỗ và tự tạo lên ổ đẻ từ những nguyên liệu như rơm khô, cành cây, lá khô…Nên chọn và quây ổ đẻ ở những nơi khuất, yên tĩnh, ấm áp, cáo ráo và kín đáo là tốt nhất.
Để cho lợn rừng tự đẻ, tuy nhiên người chăn nuôi cần có mặt khi lợn đẻ để hỗ trợ khi cần thiết. Trung bình thời gian sinh giữa 2 lợn con là 10-15 phút, trừ khi có những trục trặc xảy ra.
Sau khi đẻ, lợn mẹ sẽ nuôi con trong nhà đẻ cho tới khi cai sữa, trung bình khoảng 2 tháng. Đàn con trước khi tách mẹ cần phải được đánh số tai và được ghi chép trong các phiếu ghi chép cá thể.
2.4.2.4      Quản lý số liệu
Tất cả lợn được làm giống phải được đánh số tai bằng thẻ chuyên dụng. Sử dụng sổ ghi chép theo dõi phối giống và chăn nuôi.
2.5        Vệ sinh thú y phòng bệnh
2.5.1       Vệ sinh chuồng trại
Trước khi đưa lợn vào khu chuồng nuôi, cần tiến hành vệ sinh sát trùng tẩy uế khu vực chuồng nuôi và xung quanh. Sau đó để trống 5 đến 7 ngày để rồi mới được nhập đàn mới vào chuồng nuôi.
Mỗi trang trại cần phải có một khu vực nuôi tân đáo dành cho lợn mới nhập. Khu tân đáo phải nằm cách đàn đang nuôi gần nhất tối thiểu 100m và lợn mới nhập cần được nuôi trong khu vực này tối thiểu >= 21 ngày.
Trong thời gian nuôi tân đáo, tất cả các cá thể cần được theo dõi chặt chẽ về tình trạng sức khỏe, các dấu hiệu lâm sàng, không được bổ sung bất kỳ loại kháng sinh hay chất kích thích sinh trưởng nào vào thức ăn.
2.5.2        Nuôi cách ly gia súc bị ốm
Tất cả các trang trại phải có khu chuồng nuôi cách ly nhằm cách ly những lợn có biểu hiện làm sàng của bệnh.
Khi phát hiện lợn bị ốm phải lập tức cách ly lợn này khởi đàn tại khu nuôi cách ly.
Với lợn đang nuôi tại khu cách ly, phải được điều trị tích cực và theo dõi chặt chẽ, tiên lượng chính xác tình trạng bệnh xúc để có hướng giải quyết chính xác kịp thời.
Lợn nuôi tại khu cách ly, sau khi điều trị khởi bệnh ít nhất 10 ngày mới được nhập vào đàn cũ.
2.5.3        Vệ sinh người chăn nuôi và khách thăm trại
* Đối với khách tham quan:
-     Hạn chế tối đa khách vào thăm trại. Phải đặt biển "Không phận sự miễm vào" ở cổng trại nhằm cảnh báo, hạn chế khách vào trại.
-     Tại cổng trại phải có hố chứa dung dịch thuốc sát trùng dành cho người lội qua trước khi vào trại.
-     Có phòng thay quần áo và đi ủng của trại trước khi vào thăm khu chăn nuôi.
* Đối với người chăn nuôi:
-     Toàn bộ những người tham gia trực tiếp sản xuất dưới trại đều phải được trang bị bảo hộ lao động đảm bảo an toàn vệ sinh thú y và bảo hộ lao động.
-     Không thường xuyên đi lại giữa các trang trại chăn nuôi khác nhau.
2.5.4       Vệ sinh thức ăn, nước uống
·                    Cho lợn ăn thức ăn đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng. Không dùng thức ăn bị ôi, mốc cho lợn, kiểm soát chặt chẽ các chất bổ sung trong thức ăn.
·                    Cần vệ sinh máng ăn của lợn thường xuyên, không để thức ăn còn thừa trong máng quá lâu.
·                    Cần cung cấp đủ nước sạch cho lợn. Nước uống đảm bảo vệ sinh, không bị nhiễm khuẩn và kim loại nặng. Không dùng nước sông ngòi, ao, hồ cho lợn uống.
·                    Định kỳ kiểm tra thức ăn, nước uống cho lợn tuỳ theo tình hình cụ thể từng vùng, từng trang trại. Trong trường hợp cần thiết phải kiểm tra ngay.
2.5.5       Sử dụng vacxin phòng bệnh
Bảng 5: Vacxin dùng cho lợn
 Loại vacxin
Ngày tuổi
PTH
LMLM
Dịch tả lợn
VX tụ dấu
20
x
 
 
 
25-30
 
 
 
 
35-45
 
 
x
 
50-60
 
 
 
x
65
 
x
x
 
3.      ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Quy trình này có hiệu lực áp dụng cho các trang trại chăn nuôi lợn rừng Thái Lan. Trong quá trình thực hiện, có những thay đổi bổ sung cho phù hợp với yêu cầu thực tế.

PHỤ LỤC 1: CÁC ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA LỢN RỪNG THÁI LAN
1. Đặc điểm ngoại hình
* Vóc dáng
Lợn rừng Thái Lan có thân hình cân đối, nhanh nhẹn, di chuyển linh hoạt, hơi gầy, dài đòn, lưng thẳng, bụng thon, chân dài, nhỏ và móng nhọn, cổ dài, đầu nhỏ, mõm dài và nhọn, tai nhỏ vểnh và thính, mũi rất thính và khỏe, da lông màu hung nâu, hung đen hay xám đen, một gốc chân lông có 3 ngọn, lông dọc theo sống lưng và cổ dày, dài và cứng hơn .v.v. Vai thường cao hơn mông, đuôi nhỏ, ngắn, chỉ dài đến khoeo. Con đực có răng nanh phát triển, con cái có 2 dãy vú, mỗi dãy 5 núm vú phát triển và nổi rõ.
* Màu lông và cách phân bố lông
Lợn rừng có màu lông không đồng nhất trên cơ thể, nó được phân chia theo từng vùng khác nhau và thay đổi theo tháng tuổi, đặc biệt giai đoạn nhỏ khác hoàn toàn với giai đoạn trưởng thành.
-     Giai đoạn nhỏ: toàn thân tạo ra nhiều màu vàng thâm, đen, bạc, hung như màu lá rụng(lá vàng,đen, khô, thâm). Hai bên mình cách dọc sống lưng 1-1,5 cm là sọc đầu tiên chạy liên tục từ phía sau mông cho tới ngay sau hốc tai. Mỗi bên bao gồm 6 sọc : 3 sọc đậm thường là màu vàng sọc dưa và 3 sọc màu nâu đen. Hai bên đối xứng nhau, riêng 2 sọc đối xứng gần sống lưng là sọc liên tục còn lại là sọc ngắt quãng làm 2 hoặc 4 đoạn có xen kẽ. Phần dưới bụng là màu trắng bạc. Các sọc này đậm nét từ ngày thứ 10 đến ngày thứ 60, từ ngày 61 trở đi bắt đầu chuyển màu nhạt dần cho tới khi được 4 tháng và trở thành màu hung bạc hoặc nâu đen từ tháng thứ 6-7.
-     Giai đoạn trưởng thành: Hai bên má màu bạc má, vùng bụng màu trắng đục, còn lại toàn thân màu nâu hung hoặc đen hung. Lông dựng đứng, chĩa ra và cứng.
Lông được bố trí thành cụm chụm 3 lông thành cụm hình tam giác đều: Vùng gáy và chạy dọc sống lưng tới nửa lưng là lông cứng,chân to và tốt tạo thành dọc lông bờm. Vùng lông này thường dựng đứng khi có phản xạ tự vệ hoặc khi thực hiện phản xạ giao phối. Còn lại là lông nhỏ và mịn hơn đối với các vùng gần bụng (giao đoạn nhỏ). Càng lớn lên thì lông càng phát triển.
* Phần đầu
Đầu dài, thon, mõm dài hơn lợn nhà (đối với lợn đưa từ rừng về thường là mõm dài). Má gọn, không phệ. Đặc biệt màu lông phần đầu đều là một màu bạc hoặc màu đen sáng, hai bên mà là hoàn toàn màu bạc má (chiếm 86%-88 % trong tổng số lông má).
Răng: lợn rừng đặc biệt phát triển răng hàm trên hơn 2 răng hàm dưới. Đến tuổi trưởng thành, bộ răng này phát triển và chìa ra ngoài gọi là rănh nanh (chủ yếu gặp ở con đực). Lợn nuôi khoảng 1,5-2 năm tuổi sẽ có răng nanh.
Tai: tai nhỏ, mỏng, đứng, hướng về phía trước, không cụp như lợn nhà, phù hợp với phát hiện tiếng động từ xa. (trong trường hợp tai to, đứng hoặc hơi cụp là con lai chứ không phải con thuần).
Mắt: 2 mắt tròn, màu nâu, hàng mi trên phát triển hơn hàng mi dưới, tuyến lệ phát triển bình thường, phản xạ mắt ban đêm nhanh hơn ban ngày.
* Chân, vú và đuôi
Lợn rừng có 4 chân cao và mảnh, 2 chân sau dài hơn 2 chân. 4 móng bao gồm 2 móng treo trên thường kém phát triển, 2 móng tiếp giáp đất chụm, nhọn, màu đen chắc. Thông thường ta có thể quan sát thấy lợn chủ yếu đi bằng 2 móng tiếp giáp đất.
Vú: lợn rừng Thái Lan có từ 8-12 vú, trong đó 97% là 10 vú; 2,5 % 12 vú; 0,2% có 8 vú và 0,3% có từ 1-3 vú kẹ.
Đuôi: đuôi nhỏ vót hình đuôi chuột, có chùm lông hình dẻ quạt ở cuối đuôi như lợn nhà và đuôi kém phát triển hơn lợn nhà.
2. Đặc điểm sinh sản
Lợn rừng Thái Lan nuôi 7 - 8 tháng tuổi có thể trọng 30 – 40kg (với lợn cái có thể cho phối giống). Thời gian mang thai giống như lợn nhà (khoảng 114 ngày). Thời gian đẻ (từ con đầu đến con cuối) khoảng 0,5 – 3 giờ. Quá trình đẻ diễn ra theo tự nhiên, không cần sự giúp đỡ hoặc can thiệp của con người. Lợn rừng đẻ 1,5 – 1,8 lứa/năm, lứa đầu (con so) đẻ 4 – 6 con, lứa rạ đẻ nhiều hơn (6 – 10 con). Lợn rừng sơ sinh có tầm vóc nhỏ, khối lượng khoảng 0,4 – 0,6kg/con. Lợn khi cai sữa (2 tháng tuổi) đạt 5 – 8kg, 3 - 4 tháng tuổi: 12 - 20kg, 8 - 12 tháng: 30 – 50kg. Trọng lượng bình quân lúc trưởng thành, con đực nặng  khoảng 45 - 50kg, con cái nặng 30 - 35kg.
3. Tập tính và cách tiếp cận
* Tập tính
Lợn rừng tuy là loài động vật hoang dã nhưng có bản tính khá nhát. Thông thường khi có người lạ xuất hiện thì lợn rừng kêu lên và chạy rất nhanh về khu vực an toàn. Chính vì vậy việc tiếp xúc với lợn rừng là một việc làm rất khó khăn và đòi hỏi cần nhiều thời gian để làm quen và tiếp cận.
Trong trường hợp khi đang ăn nếu phát hiện thấy người lạ đến thì chúng lập tức chạy trốn và dồn về một nơi.
Trong quá trình thực hiện giao phối, nếu chúng phát hiện thấy con đực khác đến, hoặc người lạ làm ảnh đến quá trình giao phối của chúng thì ngay lập tức bị tấn công trở lại. Vì vậy trong quá trình chăn nuôi cần chú ý đến đặc tính này để đảm bảo an toàn trong quá trình lao động.
Lợn rừng đặc biệt dữ trong thời gian đẻ và nuôi con. Chỉ những người thường xuyên chăn nuôi mới có thể tiếp cận và lại gần chúng trong giai đoạn này. Với những người lạ có thể sẽ bị tấn công khi chúng nhận thấy có sự đe dọa tới bản thân và đàn con của chúng. Vì vậy người chăn nuôi cũng như khách tham quan cần rất cẩn thận khi tới gần những khu vực nuôi lợn nái đẻ. Ngoài lợn nái đẻ thì lợn đực cũng có bản tính rất dữ, chúng sẽ tấn công ngay khi thấy người lạ xuất hiện.
* Cách tiếp cận và bắt lợn
Chính vì lợn rừng là loại động vật hoang dã khó tiếp xúc nên việc bắt, nhốt lợn trong những lần can thiệp khi ốm đau, cân đo .v.v. là việc làm rất khó khăn. Việc đuổi bắt lợn quanh chuồng không nên sử dụng vì rất làm ảnh hưởng tới sức khỏe của chúng. Một số biện pháp có thể sử dụng trong việc bắt lợn như sau:
-     Đối với lợn <30kg: Với những loại lợn có khối lượng nhỏ chúng ta có thể sử dụng các loại vợt bắt lợn. Vợt bắt lợn có cấu tạo rất đơn giản, gồm: một thanh sắt dài 1,5-2m dùng làm cán, phía trên đầu hàn với khung tròn bằng sắt được bao bởi lưới dai, mềm và chắc. Tùy theo khối lượng lợn to nhỏ mà thiết kế khung tròn có kích cỡ khác nhau sao cho phù hợp với chúng thể vóc.
-     Lợn 30 - 80kg: lợn rừng là loại động vật rất khỏe nên không thể sử dụng sức người và tay không để bắt hay cố đinh chúng. Với những lợn có khối lượng lớn chúng ta có thể sử dụng các tấm ván lớn để ép cố định lợn vào 1 vị trí nhất định trong khu chuồng. Việc sử dụng tấm ép đòi hỏi 2-3 người khỏe mạnh tham gia và cố định trong suốt thời gian xử lý. Ngoài ra có thể sử dụng phương pháp móc hàm bằng dây thừng lớn: một đầu nhử móc qua hai răng hàm trên của con vật, đầu kia cố định dây vào một vật chắc chắn. Rút ngắn khoảng cách hai đầu dây tới khi con vật không cử động và nhúc nhích được nữa.
-     Lợn >100kg: với những lợn có khối lượng trên 100kg, tốt nhất nên làm lồng sắt với 2 đầu đều có thể đóng mở. Tìm vị trí thích hợp trong chuồng nuôi rồi tiến hành từ từ lùa lợn vào trong lồng. Tuy nhiên lông cũng cần được thiết kế sao cho phù hợp với kích thước con vật: cao 80cm, dài 120 – 150cm, rộng 50 – 60cm.

PHỤ LỤC 2: BIỂU MẪU THEO DÕI
VIỆN CHĂN NUÔI QUỐC GIA
PHIẾU THEO DÕI CÁ THỂ LỢN GIỐNG
 
Họ tên chủ gia súc: 
Địa chỉ:                                 
Lý lịch gia súc:        
Số hiệu:                                                          Giới tính:
Tên khác:                                                       Giống:..............Lợn rừng......................
Ngày sinh :............................. Ước tính:     
Số hiệu bố: ............................ Giống bố: ..............................
Số hiệu mẹ:............................ Giống mẹ: .............................
Biến động
Ngày nhập: .........................
Lý do nhập:
Ngày thải:...........................
Lý do thải:
GIÁM ĐỊNH LỢN GIỐNG
Ngày
Thời điểm giám định
Đặc điểm giống
Đầu cổ vai ngực
Lưng sườn bụng
Mông đùi sau và 4 chân
Vú và bộ phận sinh dục
Đặc điểm ngoại hình và khuyết tật
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
CÂN ĐO
Số hiệu:
Ngày
Số hiệu
Thời điểm cân đo
Trọng lượng (kg)
Mỡ lưng (cm)
Dài thân (cm)
Vòng ngực (cm)
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
ĐẺ VÀ TÌNH TRẠNG LỢN MẸ, LỢN CON
Lứa đẻ
Ngày đẻ
Tình trạng lúc đẻ
Số phận mẹ
Số con đẻ ra
Giới tính lợn con
K.lượng lợn con
Tình trạng lợn con
Số phận lợn con
Số hiệu lợn con
1
20/03/08
BT
n.con
6
3đực
0.6
BT
Nuôi
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
PHỐI VÀ KHÁM THAI
Số hiệu:
Lứa đẻ
Lần phối
Ngày phối
Cấy phối
Số hiệu đực
Giống đực phối
Người phối
Ngày khám thai
Kết luận
Ngưòi khám
1
1
26/11/07
nhảy
E4
lợn rừng
Trinh
 
 
 
2
1
18/06/08
nhảy
E4
lợn rừng
Trinh
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Thông tin liên quan
Tập tính của heo rừng.  (19/10/2012)
Kỹ thuật nuôi lợn rừng Việt Nam  (27/09/2012)
Một số kháng sinh cấm sử dụng trong chăn nuôi.  (06/11/2010)
Hàm lượng vi lượng có trong một số loại thức ăn cho động vật.  (06/11/2010)
Thịt sạch.  (02/11/2010)
Kỹ thuật chăn nuôi heo rừng.  (01/11/2010)
0919 599 600
Video Clip         Xem thêm ...
Get the Flash Player to see this player.
Thông Tin Cần Biết
Tỉ Giá - Giá Vàng
Thời Tiết
Chứng Khoán (HOSE)
Chứng Khoán (HNX)
Chứng Khoán (OTC)
Lượt truy cập : 788840
Trực tuyến : 9
Designed & Powered by NEWTAB CO., LTD.